Những ai có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung?

Ung thư nội mạc tử cung là loại ung thư phổ biến thứ tư ở phụ nữ. Nó cũng là bệnh ung thư phổ biến nhất ở cơ quan sinh sản của phụ nữ. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, căn bệnh này hoàn toàn có thể chữa khỏi. Do đó, hãy chiến đấu chống lại nó bằng cách tìm hiểu các triệu chứng và yếu tố nguy cơ của bệnh. Với cách này, bạn có thể đến gặp ngay bác sĩ phụ khoa để được điều trị sớm.

Triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung

Chảy máu âm đạo bất thường là triệu chứng ban đầu cũng là triệu chứng chính để nhận diện ung thư nội mạc tử cung. Chảy máu âm đạo bất thường bao gồm:

  • Chảy máu âm đạo sau khi mãn kinh
  • Chảy máu giữa kỳ kinh nguyệt
  • Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, lượng kinh ra nhiều hoặc kéo dài hơn bình thường

Khoảng 1/3 phụ nữ bị chảy máu âm đạo sau khi mãn kinh bị ung thư nội mạc tử cung. Mặc dù không phải lúc nào đây cũng là dấu hiệu của ung thư nội mạc tử cung nhưng nếu như nhận thấy dấu hiệu này, nhất là khi bạn đã bước qua tuổi mãn kinh, bạn cần đi khám ngay để được hướng dẫn cách xử lý kịp thời.

Bên cạnh đó, các triệu chứng khác của ung thư nội mạc tử cung còn có:

  • Dịch âm đạo bất thường, có thể như nước, có máu hoặc màu nâu, có mùi hôi
  • Đi tiểu khó hoặc đau
  • Đau vùng xương chậu
  • Đau hay chảy máu khi quan hệ tình dục
  • Suy nhược cơ thể, sốt cao, thiếu máu …là các triệu chứng muộn của bệnh.

Xem thêm:Ung thư nội mạc tử cung được chẩn đoán thế nào?

Đối tượng có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung

1. Phụ nữ bị rối loạn nội tiết tố sinh dục

Phụ nữ bị rối loạn nội tiết tố sinh dục, điển hình là có lượng estrogen cao trong cơ thể, thường mắc các bệnh như hội chứng buồng trứng đa nang, vô kinh, vô sinh. Ở những bệnh này, tế bào trứng không rụng theo chu kỳ bình thường, nội mạc tử cung thiếu chất đối kháng với progesterone, và tác dụng của estrogen đơn độc trong thời gian dài khiến nội mạc tử cung tăng sinh, thậm chí trở thành ung thư.

2. Phụ nữ mãn kinh hoặc mãn kinh muộn

Căn bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ sau mãn kinh, khi các tế bào ung thư xuất hiện trên các mô của nội mạc tử cung hoặc niêm mạc tử cung thì đó là ung thư nội mạc tử cung.

Sau tuổi sinh sản, tuổi khởi phát ung thư nội mạc tử cung trung bình là ≥ 55 tuổi, 75% là sau mãn kinh, 25% trước mãn kinh. Những người dưới 40 tuổi chiếm 4% -14%. Hiện nay, khi phụ nữ có xu hướng lập gia đình và sinh nở muộn, nên độ tuổi sinh đẻ của họ dần bị đẩy lùi. Tỉ lệ mắc hội chứng buồng trứng đa nang, béo phì, chức năng buồng trứng bất thường và các bệnh khác có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ngày càng tăng và tỉ lệ bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung cũng trẻ hóa qua từng năm.

Độ tuổi chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung trung bình là 60 tuổi. Để phát hiện sớm ung thư tử cung, phụ nữ sau 55 nên tầm soát bệnh định kỳ hằng năm và kiểm tra sức khỏe phụ khoa để xem có bất thường nào không.

Phụ nữ mãn kinh muộn hầu hết có kinh nguyệt không đều trong những năm sau đó, do đó, thời gian kích thích estrogen không có tác dụng hiệp đồng của progesterone kéo dài.

2. Phụ nữ bị thừa cân, béo phì, cao huyết áp hay tiểu đường

Lối sống thiếu lành mạnh như ăn nhiều chất béo, tinh bột, lười vận động, hút thuốc, nghiện rượu là điều kiện gây ra các bệnh béo phì, cao huyết áp hay tiểu đường.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ số khối cơ thể (BMI) cứ tăng thêm 1 đơn vị (kg/ m2), thì nguy cơ tương đối của ung thư nội mạc tử cung sẽ tăng lên 9%. So với phụ nữ có chỉ số BMI <25, phụ nữ có chỉ số BMI từ 30 đến 35 tăng khoảng 1,6 lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, trong khi phụ nữ có BMI> 35 tăng 3,7 lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Bên cạnh đó, bệnh nhân đái tháo đường hoặc bệnh nhân rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ mắc bệnh tăng 2,8 lần so với người bình thường, bệnh nhân tăng huyết áp tăng 1,8 lần.

4. Phụ nữ vô sinh hoặc không sinh con

Vô sinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, và ngược lại, mỗi lần mang thai có thể giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở một mức độ nhất định.

Một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu Australia cho thấy, mang thai và sinh con giúp giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ.

Các nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Y khoa Berghof ở Úc đã báo cáo trong số mới của “Tạp chí Quốc tế về Ung thư” rằng họ đã phân tích dữ liệu mang thai thu được từ 30 nghiên cứu liên quan trên khắp thế giới, bao gồm gần 17.000 bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ và gần 40.000 phụ nữ chưa từng mắc bệnh.

Giáo sư Penelope Webb, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, thống kê cho thấy trong một số lần mang thai nhất định, mỗi lần mang thai thêm tháng có thể giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ khoảng 15%; nếu một lần mang thai kết thúc bằng sảy thai cũng có thể giảm. Nguy cơ mắc bệnh ung thư của phụ nữ khoảng 7%; sinh đôi hoặc sinh nhiều con cũng không làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư này.

Các nhà nghiên cứu tin rằng nghiên cứu này có nghĩa là nồng độ progesterone cao hơn vào cuối thai kỳ và những thay đổi sinh lý nhất định ở phụ nữ mang thai trước khi sinh trong giai đoạn đầu của thai kỳ có thể giúp giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Tất nhiên cũng cần thời gian khám phá sâu hơn các tác dụng bảo vệ được phản ánh trong nghiên cứu này để xác định các yếu tố chính làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và giúp khắc phục căn bệnh ung thư này.

5. Phụ nữ có khối u ở tử cung, buồng trứng

Một số khối u buồng trứng hay tử cung, chẳng hạn như khối u tế bào hạt buồng trứng và khối u tế bào nang, u xơ tử cung, polyp tử cung thường tạo ra lượng estrogen cao, khiến cho kinh nguyệt không đều, chảy máu sau mãn kinh, tăng sản nội mạc tử cung và thậm chí là ung thư nội mạc tử cung. Sinh thiết nội mạc tử cung nên được thực hiện định kỳ ở những bệnh nhân mắc các bệnh trên để tầm soát ung thư sớm.

6. Phụ nữ điều trị/ bổ sung Estrogen ngoại sinh

Estrogen là loại hormone sinh dục quan trọng bậc nhất với hệ thống sinh sản nữ giới. Thiếu estrogen gây ra rất nhiều hệ lụy. Tuy nhiên, không phải cứ thiếu là bù. Nhiều phụ nữ thích dùng bổ sung các sản phẩm sức khỏe có estrogen. Bổ sung nội tiết tố thiếu khoa học hại nhiều hơn lợi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng estrogen lâu dài có thể gây ung thư nội mạc tử cung.

Thậm chí, điều trị bệnh dài kì bằng estrogen cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh này. Cụ thể là, nếu phụ nữ trải qua một đợt điều trị bằng estrogen ngoại sinh (duy nhất) kéo dài trên 5 năm, thì nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung tăng lên từ 10 đến 30 lần. Chẳng hạn như Tamoxifen là loại thuốc điều trị nội tiết cho bệnh ung thư vú. Tamoxifen là một chất điều chỉnh thụ thể estrogen có chọn lọc, nó có thể có cả tác dụng giống estrogen và tác dụng kháng estrogen, có liên quan đến các cơ quan đích khác nhau. Nếu sử dụng lâu dài có thể dẫn đến tăng sản nội mạc tử cung và làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Ung thư vú được điều trị bằng tamoxifen, tỉ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung cao gấp 7,5 lần so với người bình thường.

7. Yếu tố di truyền

Ung thư nội mạc tử cung liên quan đến hội chứng Lynch chiếm từ 2% – 5% của tất cả các loại ung thư nội mạc tử cung. Phụ nữ mắc hội chứng Lynch có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung suốt đời là 70%. Các thành viên khác trong gia đình có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư nội mạc tử cung thì nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cũng tăng tương ứng. Phụ nữ có họ hàng cấp một bị ung thư nội mạc tử cung có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cao gấp khoảng 1,5 lần.

Ngoài ra, nếu trong gia đình có người từng bị ung thư vú hoặc một bệnh ung thư khác thì nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cũng cao hơn người bình thường.

Phòng ngừa ung thư nội mạc tử cung

Vì nguyên nhân của ung thư nội mạc tử cung cho đến nay vẫn chưa được tìm ra rõ ràng, nên chưa thể ngăn ngừa được sự xuất hiện của nó. Do đó, chúng ta cần tập trung phát hiện sớm và điều trị sớm.

Phụ nữ đến tuổi tiền mãn kinh nên tầm soát ung thư định kỳ hàng năm. Đối với phụ nữ trẻ cũng nên khám sức khỏe phụ khoa định kỳ, chú ý tới các dấu hiệu bất thường của cơ thể như là rối loạn kinh nguyệt, ra máu âm đạo bất thường, đau bụng dưới dai dẳng…

Đối với các bệnh nhân đã được xác định mắc chứng loạn sản nội mạc tử cung và các tổn thương tiền ung thư khác, nên cắt toàn bộ tử cung nếu không còn nguyện vọng sinh sản. Những phụ nữ vẫn mong muốn sinh con trong tương lai thì nên điều trị bằng progesterone liều cao để bảo vệ nội mạc tử cung kết hợp với việc theo dõi chặt chẽ.

Bên cạnh đó, các chị em cần chú ý đến thói quen sinh hoạt hằng ngày, kiểm soát chế độ ăn, tăng cường vận động, giảm tỉ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung bằng cách kiểm soát sự xuất hiện của các như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì. Lối sống lành mạnh không nhất thiết phải giống nhau. Do đó, hãy tìm chế độ ăn uống và kế hoạch tập luyện phù hợp với bạn nhất. Một lối sống lành mạnh cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh tật khác.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *